Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử lý hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển, nhiều hành vi làm nhục được thực hiện qua Facebook, TikTok, Zalo và các nền tảng trực tuyến. Đây là tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 155, với mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Điểm đặc biệt của tội này: đối với trường hợp thuộc khoản 1, vụ án chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
1. Tội làm nhục người khác là gì theo pháp luật?
Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hành vi này có thể được thực hiện bằng lời nói, hành động, hình ảnh hoặc qua các phương tiện điện tử.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của con người, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.
- Mặt khách quan: Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự người khác. Có thể bằng lời nói (chửi bới, xúc phạm trước đám đông), hành động (lột quần áo, bôi bẩn lên người), hoặc qua mạng (phát tán hình ảnh, video nhạy cảm; viết bài bôi nhọ công khai).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người khác nhưng vẫn mong muốn thực hiện.
- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.
Cần phân biệt: Tội làm nhục người khác (Điều 155) khác với Tội vu khống (Điều 156 BLHS). Tội làm nhục nhắm vào hành vi xúc phạm trực tiếp, còn tội vu khống là hành vi bịa đặt, loan truyền thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm. Đây là hai tội danh độc lập.
2. Khung hình phạt của tội làm nhục người khác
Điều 155 BLHS quy định 4 khoản: 3 khoản hình phạt chính và 1 khoản hình phạt bổ sung.

2.1. Khung hình phạt theo Khoản 1 Điều 155 BLHS
Phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Đây là khung áp dụng khi không có tình tiết tăng nặng.
Lưu ý quan trọng: trường hợp thuộc khoản 1, vụ án chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố, vụ án sẽ được đình chỉ.
2.2. Khung hình phạt theo Khoản 2 Điều 155 BLHS
Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Đối với 02 người trở lên;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Đối với người đang thi hành công vụ;
- Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
- Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
Tình tiết “sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử” bao gồm các hành vi: đăng bài xúc phạm trên Facebook, TikTok, Zalo; phát tán hình ảnh, video nhạy cảm của nạn nhân; gửi tin nhắn đe dọa, bôi nhọ lên nhóm chat công khai.

2.3. Khung hình phạt theo Khoản 3 Điều 155 BLHS
Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm khi thuộc một trong các trường hợp:
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Làm nạn nhân tự sát.
2.4. Hình phạt bổ sung (Khoản 4)
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Với khung hình phạt cao nhất là 05 năm tù (không quá 20 năm), vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực nơi tội phạm được thực hiện.
3. Làm nhục người khác trên mạng xã hội bị xử lý thế nào?
Làm nhục người khác trên mạng xã hội (Facebook, TikTok, Zalo, YouTube…) được xếp vào tình tiết tăng nặng “sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử” tại khoản 2 Điều 155 BLHS. Khung hình phạt là tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Ngoài trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi làm nhục qua mạng còn có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng về hành vi “cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân” trên mạng.
Trong nhiều vụ việc thực tế, nạn nhân bị làm nhục trên mạng xã hội có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, song song với việc tố giác hành vi hình sự.

4. Bị làm nhục hoặc bị tố giác về tội làm nhục, cần làm gì?
Nếu bạn là người bị làm nhục: Thu thập và bảo quản chứng cứ ngay (chụp màn hình bài đăng, lưu link, ghi âm/ghi hình nếu có thể). Gửi đơn tố giác hoặc yêu cầu khởi tố đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc Công an cấp xã nơi xảy ra sự việc. Với tư cách người bị hại (Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự), bạn có quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu bồi thường thiệt hại và nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi.
Nếu bạn là người bị tố giác: Theo Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự, bạn có quyền được biết nội dung tố giác, trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ và nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Nếu đã bị khởi tố với tư cách bị can (Điều 60 BLTTHS), bạn có quyền có người bào chữa ngay từ thời điểm khởi tố, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình.
Việc có luật sư tư vấn sớm giúp bạn đánh giá đúng mức độ hành vi và chuẩn bị phương án xử lý phù hợp. Nếu cần hỗ trợ, liên hệ Luật sư Hình sự để được tư vấn định hướng phù hợp với hồ sơ của mình.
*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật sư Hình Sự để được hướng dẫn cụ thể.






