Bảo vệ công lý – Bảo vệ quyền con người

ĐIỀU 249 BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

điều 249 bộ luật hình sự

Điều 249 Bộ luật Hình sự là quy định trực tiếp điều chỉnh tội tàng trữ trái phép chất ma túy, một trong những tội danh ma túy thường gặp nhất trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam. Tuy nhiên, không ít người nhầm lẫn giữa hành vi tàng trữ với vận chuyển hoặc mua bán ma túy, dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng. Bài viết dưới đây phân tích bản chất pháp lý của điều luật này, các khung hình phạt theo khối lượng ma túy và những điểm cần lưu ý để hiểu đúng quy định khi đối chiếu với tình huống thực tế.

1. Bản chất pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Điều 249

điều 249 bộ luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1.1. Thế nào là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy?

Theo hướng dẫn tại Mục 1.1 Phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, tàng trữ trái phép chất ma túy được hiểu là hành vi cất giữ, cất giấu chất ma túy trái phép tại bất kỳ địa điểm nào (ví dụ như trong nhà, nơi làm việc, trên phương tiện giao thông hoặc cất giấu trên người, quần áo) mà người thực hiện có thể kiểm soát, đồng thời hành vi này không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.

Trường hợp cơ quan điều tra không chứng minh được hành vi phạm tội nhằm mục đích mua bán hoặc vận chuyển ma túy thì bị can, bị cáo sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tính “trái phép” ở đây được xác định khi việc cất giữ chất ma túy không được cơ quan có thẩm quyền cho phép và không thuộc trường hợp được pháp luật công nhận hợp lệ. Hành vi tàng trữ có thể xảy ra trong thời gian dài hoặc ngắn, không phụ thuộc vào việc người tàng trữ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay không.

1.2. Điều kiện cần: Mục đích tàng trữ ma túy

Đây là yếu tố pháp lý quan trọng nhất khi xác định một hành vi có cấu thành tội theo Điều 249 Bộ luật Hình sự hay không. Người thực hiện hành vi tàng trữ phải không có mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất ma túy. Nếu cơ quan điều tra xác định mục đích là mua bán hoặc vận chuyển, hành vi đó có thể được xem xét theo các điều luật khác trong Bộ luật Hình sự, không phải Điều 249.

Trong thực tiễn tố tụng, việc xác định mục đích tàng trữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khối lượng ma túy thu giữ, lời khai của người bị buộc tội, hoàn cảnh phát hiện, tang vật liên quan và kết quả điều tra tổng thể. Đây cũng là điểm dễ gây tranh cãi nhất giữa cơ quan tố tụng và người bào chữa trong các vụ án ma túy.

2. Các khung hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự

2.1. Khung hình phạt theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc khung hình phạt này là phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Khung hình phạt này áp dụng khi hành vi phạm tội không có các tình tiết tăng nặng định khung và khối lượng ma túy thuộc giới hạn định lượng quy định tại Khoản 1.

Cần lưu ý rằng không phải mọi trường hợp phát hiện ma túy đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nếu khối lượng ma túy dưới ngưỡng nhất định theo quy định, hành vi có thể chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính. Ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự phụ thuộc trực tiếp vào loại chất ma túy và khối lượng thực tế được giám định.

2.2. Khung hình phạt theo Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định ba khung hình phạt tăng nặng chính tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm tăng dần của hành vi phạm tội:

  • Khoản 2 (Khung hình phạt tăng nặng cấp độ một): Áp dụng mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với các trường hợp tàng trữ ma túy có tình tiết định khung tăng nặng như phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm, hoặc khối lượng ma túy lớn vượt ngưỡng quy định.
  • Khoản 3 (Khung hình phạt tăng nặng cấp độ hai): Áp dụng mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm tương ứng với khối lượng ma túy lớn hơn theo quy định định lượng của khoản này.
  • Khoản 4 (Khung hình phạt tăng nặng cấp độ ba): Áp dụng mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với trường hợp tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng đặc biệt lớn.

Hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thẩm quyền điều tra và xét xử sơ thẩm theo cải cách tư pháp: Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), cơ cấu cơ quan điều tra, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối với tội danh này có những thay đổi quan trọng như sau:

  • Về cơ quan điều tra: Do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện bị giải thể theo lộ trình cải cách tư pháp mới, cơ quan có thẩm quyền chính trong việc thụ lý, điều tra tội tàng trữ trái phép chất ma túy là Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an cấp tỉnh (ngoại trừ một số trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn xã được giao cho Điều tra viên của Công an cấp xã có đủ trình độ chuyên môn tiến hành thụ lý, điều tra bước đầu).
  • Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm: Các vụ án hình sự thuộc Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự (có mức hình phạt cao nhất đến 15 năm tù) thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực. Các vụ án hình sự thuộc Khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự (áp dụng khung hình phạt cao nhất là tù chung thân) thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
  • Về thẩm quyền phúc thẩm: Trong trường hợp bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo hoặc kháng nghị (đối với các vụ án thuộc Khoản 4 Điều 249), thẩm quyền xét xử phúc thẩm thuộc về Tòa Phúc thẩm TAND tối cao (đơn vị thay thế hoàn toàn cho hệ thống Tòa án nhân dân cấp cao đã chấm dứt hoạt động).

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức án: Khối lượng và loại ma túy

Khối lượng ma túy bị truy cứu trách nhiệm hình sự là yếu tố then chốt quyết định người bị buộc tội có thể đối mặt với khung hình phạt nào. Bộ luật Hình sự quy định ngưỡng khối lượng cụ thể cho từng loại chất ma túy khác nhau (ví dụ như heroin, cocaine, methamphetamine, nhựa thuốc phiện và các chất ma túy khác) để phân định ranh giới giữa các khung hình phạt.

Ngoài khối lượng, loại chất ma túy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định khung hình phạt. Cùng một khối lượng vật chất thu giữ nhưng nếu là các chất ma túy khác nhau, ngưỡng để chuyển sang khung tăng nặng có thể rất khác nhau. Đây là lý do vì sao kết quả giám định pháp y đối với tang vật có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình tố tụng.

Để giúp độc giả dễ hình dung, dưới đây là bảng định lượng chi tiết đối với một số chất ma túy phổ biến tương ứng với từng khung hình phạt của Điều 249 Bộ luật Hình sự:

Loại chất ma túyKhoản 1 (từ 03 đến 05 năm tù)Khoản 2 (từ 05 đến 10 năm tù)Khoản 3 (từ 10 đến 15 năm tù)Khoản 4 (từ 15 đến 20 năm hoặc chung thân)
Heroin, Cocaine, Methamphetamine, MDMA, KetamineTừ 0,1g đến dưới 5gTừ 5g đến dưới 30gTừ 30g đến dưới 100gTừ 100g trở lên
Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côcaTừ 1g đến dưới 500gTừ 500g đến dưới 1kgTừ 1kg đến dưới 5kgTừ 5kg trở lên
Lá cần sa, lá côcaTừ 1kg đến dưới 10kgTừ 10kg đến dưới 25kgTừ 25kg đến dưới 75kgTừ 75kg trở lên
Quả thuốc phiện khôTừ 5kg đến dưới 50kgTừ 50kg đến dưới 200kgTừ 200kg đến dưới 600kgTừ 600kg trở lên

3. Rủi ro pháp lý và điểm cần lưu ý khi vướng vào Điều 249 BLHS

khung hình phạt tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều 249
Các khung hình phạt và rủi ro pháp lý khi vướng vào tội tàng trữ ma túy

3.1. Nhầm lẫn giữa tàng trữ với vận chuyển hoặc mua bán

Một trong những nhầm lẫn thường gặp nhất khi tiếp cận Điều 249 Bộ luật Hình sự là đồng nhất hành vi tàng trữ với vận chuyển hoặc mua bán ma túy. Ba hành vi này được quy định tại các điều luật riêng biệt trong Bộ luật Hình sự và có cấu thành pháp lý khác nhau, đặc biệt ở yếu tố mục đích. Việc xác định sai tội danh có thể dẫn đến hướng bào chữa không phù hợp và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị buộc tội.

Trong thực tiễn, cơ quan điều tra có thể ban đầu xem xét một hành vi theo tội danh nặng hơn nếu chưa đủ căn cứ để phân định rõ mục đích. Người bị tạm giữ, bị can hoặc người thân liên quan cần hiểu rằng việc làm rõ mục đích tàng trữ ngay từ giai đoạn điều tra có thể có ý nghĩa quan trọng đối với tội danh và khung hình phạt được áp dụng sau này. Đây là lý do tại sao thời hạn điều tra vụ án hình sự cần được theo dõi sát sao để không bỏ lỡ thời điểm can thiệp pháp lý kịp thời.

3.2. Vai trò của việc giám định hàm lượng và khối lượng chất ma túy

Kết quả giám định khối lượng chất ma túy trong tang vật là căn cứ trực tiếp để xác định người bị buộc tội có thể đối mặt với khung hình phạt nào theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề giám định, có một điểm pháp lý đặc biệt quan trọng cần được làm rõ để tránh hiểu lầm tai hại.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Công văn số 234/TANDTC-PC, đối với các chất ma túy ở thể rắn thường gặp (ví dụ như Heroin, Methamphetamine, MDMA, Cocaine), việc truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được tính dựa trên tổng khối lượng hỗn hợp chứa chất ma túy thu giữ được, chứ không nhân với tỷ lệ hàm lượng tinh chất sau khi giám định.

Việc trưng cầu giám định hàm lượng tinh chất chỉ bắt buộc thực hiện trong một số trường hợp đặc biệt như ma túy ở dạng lỏng pha loãng hoặc hỗn hợp cực kỳ phức tạp khó xác định tính chất.

Như vậy, trên thực tế tố tụng, toàn bộ trọng lượng bột hoặc viên nén thu giữ được sẽ được dùng làm căn cứ trực tiếp để định khung hình phạt. Điều này có nghĩa là bị can, bị cáo không thể kỳ vọng việc quy đổi hàm lượng tinh chất để được giảm nhẹ khung hình phạt nếu tang vật thu giữ là thể rắn.

Mặc dù vậy, kết quả giám định lần đầu vẫn có thể được khiếu nại hoặc đề nghị giám định lại nếu có căn cứ nghi ngờ về tính chính xác của kết quả. Trong quá trình bào chữa, Luật sư chuyên môn sẽ rà soát chặt chẽ quy trình thu mẫu, niêm phong và bàn giao mẫu vật theo đúng quy định tại Thông tư số 08/2021/TT-BCA của Bộ Công an. Mọi sai sót trong quy trình tố tụng này đều có thể trở thành căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ tại Tòa án.

4. Tại sao cần tư vấn luật sư hình sự sớm trong trường hợp này?

Điều 249 Bộ luật Hình sự là một trong những điều luật có mức hình phạt trải dài từ nghiêm khắc đến đặc biệt nghiêm khắc (mức án tù từ 03 năm cho đến tù chung thân) tùy thuộc vào khối lượng ma túy, loại chất và các tình tiết cụ thể.

Khác với tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) hiện vẫn quy định hình phạt tử hình khi khối lượng đặc biệt lớn, còn tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250) đã được bãi bỏ hình phạt tử hình từ ngày 01/7/2025 theo Luật số 86/2025/QH15, khung hình phạt cao nhất của tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 vẫn chỉ dừng lại ở mức tù chung thân. Chính vì khoảng cách lớn giữa các khung hình phạt này, hướng xử lý pháp lý từ sớm có ý nghĩa rất thực chất đối với kết quả cuối cùng của vụ án.

Khi người thân hoặc bản thân có liên quan đến vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy, một trong những việc quan trọng nhất cần làm là xác định rõ: hành vi thực tế có đủ dấu hiệu cấu thành tội theo Điều 249 Bộ luật Hình sự không, khối lượng ma túy sau giám định là bao nhiêu, và mục đích tàng trữ có thể được làm rõ theo hướng nào trong quá trình tố tụng.

Những câu hỏi này không có câu trả lời chung, vì mỗi vụ án hình sự có hồ sơ và tình tiết riêng biệt. Việc có luật sư hình sự tham gia từ giai đoạn điều tra giúp bảo đảm quyền của người bị buộc tội được thực thi đúng theo quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội theo quy định tại Điều 60 và Điều 61 Bộ luật Tố tụng Hình sự, quyền được thông báo về tội danh và quyền có người bào chữa.

Chính vì mức hình phạt của tội danh này rất nghiêm khắc, sự tham gia sớm của Luật sư hình sự sẽ giúp thu thập kịp thời các tài liệu chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đây là cơ sở pháp lý để Luật sư đề xuất Tòa án áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự và Án lệ số 63/2023/AL nhằm quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Phương án bào chữa này mở ra cơ hội giảm nhẹ án phạt rất lớn cho các bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và hợp tác tích cực với cơ quan điều tra.

Nếu cần được tư vấn thêm về Điều 249 Bộ luật Hình sự hoặc các vấn đề liên quan đến tố tụng hình sự, bạn có thể tham khảo thêm thông tin về luật sư tư vấn luật hình sự để được định hướng phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự có cấu thành pháp lý không đơn giản như nhiều người nghĩ. Việc nắm đúng bản chất hành vi, yếu tố mục đích và vai trò của kết quả giám định là nền tảng để tiếp cận vụ án đúng hướng. Nếu bạn hoặc người thân đang có liên quan đến vụ việc liên quan điều luật này, đừng chần chừ liên hệ với đội ngũ Luật sư bào chữa án ma túy có chuyên môn để được trao đổi cụ thể theo hồ sơ thực tế.

Luật Sư Hình Sự, Hotline: 0988 052 761, Website: https://luatsuhinhsugioi.vn, Email: luatsuhinhsu.hcm@gmail.com

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật sư Hình Sự để được hướng dẫn cụ thể.

Theo quy định hiện hành (từ ngày 01/7/2025): tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249) có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân, không quy định hình phạt tử hình. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250) trước đây có mức cao nhất là tử hình nhưng đã được Luật số 86/2025/QH15 bãi bỏ, nay cao nhất là tù chung thân. Riêng tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) và tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) vẫn giữ hình phạt cao nhất là tử hình khi khối lượng đặc biệt lớn.

KhoảnMức hình phạt tù (từ 01/7/2025)Heroin, Cocaine, Methamphetamine, MDMA, KetamineNhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca
Khoản 103 năm đến 05 nămTừ 0,1g đến dưới 5gTừ 1g đến dưới 500g
Khoản 205 năm đến 10 nămTừ 5g đến dưới 30gTừ 500g đến dưới 1kg
Khoản 310 năm đến 15 nămTừ 30g đến dưới 100gTừ 1kg đến dưới 5kg
Khoản 415 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (không quy định tử hình)Từ 100g trở lênTừ 5kg trở lên

Mức khởi điểm khoản 1 được nâng từ 01–05 năm lên 03–05 năm theo Luật số 86/2025/QH15, hiệu lực 01/7/2025.

5. Câu hỏi thường gặp về Điều 249 Bộ luật Hình sự (FAQ)

5.1. Tàng trữ ma túy dưới 0,1 gam có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Đối với các chất ma túy phổ biến như Heroin, Cocaine, Methamphetamine, MDMA, nếu khối lượng tàng trữ dưới 0,1 gam thì người thực hiện hành vi thường không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, người tàng trữ vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt sau: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi liên quan đến ma túy mà còn vi phạm, đã bị kết án về tội này hoặc tội danh ma túy khác chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

5.2. Có được giảm nhẹ hình phạt dưới khung đối với tội tàng trữ ma túy không?

Bị cáo hoàn toàn có cơ hội được giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Điều này được thực hiện thông qua việc Luật sư chuyên môn hỗ trợ thu thập các tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Tòa án xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự và Án lệ số 63/2023/AL.

Ngoài ra, trong trường hợp bản án sơ thẩm quá nghiêm khắc, bị cáo có thể nhờ Luật sư soạn đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để tìm kiếm cơ hội giảm nhẹ mức án ở giai đoạn xét xử phúc thẩm.

5.3. Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những khoản nào của Điều 249?

Theo quy định cải cách tư pháp mới nhất có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Những vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc Khoản 4 Điều 249 (mức hình phạt cao nhất là tù chung thân) sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm.

5.4. Tính khối lượng tang vật ma túy thể rắn là hỗn hợp như thế nào?

Hiện nay, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Công văn số 234/TANDTC-PC, các cơ quan tố tụng sẽ tính hình phạt dựa trên tổng khối lượng của hỗn hợp chứa chất ma túy thu giữ được đối với thể rắn (ví dụ như thuốc lắc dạng viên nén hoặc ma túy đá dạng bột), chứ không bóc tách hay giám định hàm lượng tinh chất để quy đổi trừ khi thuộc trường hợp đặc biệt như ma túy ở thể lỏng pha loãng.

Chia sẻ:
Facebook
Email
X

Bài viết liên quan

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Ngoại tình có bị đi tù không? Pháp luật Việt Nam không có tội ngoại tình. Tuy nhiên, chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả có thể bị truy cứu theo Điều 182 BLHS với mức phạt tù đến 03 năm.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh

Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử lý hành vi

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 BLHS 2015 có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Bài viết phân tích cấu thành tội phạm, 4 khung hình phạt, phân biệt với tội tham ô (Điều 353), nhận hối lộ (Điều 354) và quyền bào chữa của bị can.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Nhận hối lộ bao nhiêu thì bị truy tố? Ngưỡng truy cứu TNHS từ 2 triệu đồng. Dưới 2 triệu vẫn bị truy tố nếu đã bị kỷ luật hoặc hối lộ phi vật chất. Từ 01/7/2025, Luật 86/2025 đã bỏ tử hình với tội nhận hối lộ; mức cao nhất còn tù chung thân.
Mục lục