Bảo vệ công lý – Bảo vệ quyền con người

ĐIỀU 255 BỘ LUẬT HÌNH SỰ: TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

điều 255 bộ luật hình sự

Điều 255 Bộ luật Hình sự là quy định trực tiếp xử lý hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, một trong những tội danh ma túy có khung hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Thực tế, hành vi đứng ra tổ chức, sắp xếp để người khác sử dụng trái phép chất ma túy đã đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này, với mức án có thể lên đến tù chung thân.

1. Nội dung Điều 255 Bộ luật Hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

điều 255 bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với các khung hình phạt cụ thể như sau:

Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự: Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực).

Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đối với phụ nữ mà biết là có thai; đối với người đang cai nghiện; gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây bệnh tâm thần và hành vi của người khác từ 11% đến 45%; tái phạm nguy hiểm, người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực).

Khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: đối với người dưới 13 tuổi; gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây bệnh tâm thần và hành vi của người khác từ 46% trở lên; gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; gây bệnh tâm thần và hành vi của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 45%; làm chết người, người phạm tội bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm (vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực).

Khoản 4 Điều 255 Bộ luật Hình sự: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: làm chết 02 người trở lên; gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên hoặc gây bệnh tâm thần và hành vi của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 46% trở lên, người phạm tội bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân (vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh).

Khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự (Hình phạt bổ sung): Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2. Các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm theo Điều 255 Bộ luật Hình sự

2.1. Hành vi thế nào được coi là tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy?

Điểm cốt lõi khi áp dụng Điều 255 Bộ luật Hình sự là hiểu đúng hành vi “tổ chức”. Đây không đơn thuần là hoạt động trực tiếp sử dụng ma túy, mà là hành vi chủ động chuẩn bị, sắp xếp hoặc điều phối để người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Hành vi tổ chức được thể hiện qua các việc làm như chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, rủ rê, tập hợp người tham gia, cung cấp chất ma túy hoặc phân công vai trò trong buổi sử dụng ma túy tập thể. Người thực hiện các hoạt động này đóng vai trò chủ mưu hoặc giúp sức tích cực, khác biệt hoàn toàn với người chỉ thụ động sử dụng ma túy.

2.2. Sự khác biệt giữa người chủ mưu, người giúp sức và người sử dụng

Việc phân định vai trò trong vụ án hình sự về ma túy quyết định mức hình phạt cụ thể. Người chủ mưu là người khởi xướng, lên kế hoạch và chỉ đạo thực hiện. Người giúp sức đóng vai trò hỗ trợ như cung cấp phòng bay lắc, chuẩn bị dụng cụ hoặc tìm mua ma túy theo yêu cầu của người tổ chức.

Người chỉ tham gia sử dụng ma túy theo lời mời mà không có vai trò chuẩn bị hay tổ chức thì không bị xử lý về tội danh này. Tuy nhiên, họ có thể bị xử phạt hành chính từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a Bộ luật Hình sự (được bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự) nếu đang trong diện cai nghiện, điều trị nghiện hoặc đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo luật định.

3. Các khung hình phạt đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

khung hình phạt điều 255 bộ luật hình sự tội tổ chức sử dụng ma túy
Khung hình phạt theo Điều 255 Bộ luật Hình sự từ 2 năm đến tù chung thân

3.1. Khung hình phạt cơ bản và các tình tiết định khung tăng nặng

Khung hình phạt cơ bản theo Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khung hình phạt này áp dụng cho các hành vi tổ chức sử dụng ma túy thông thường, chưa kèm theo các tình tiết định khung tăng nặng khác.

Khi xuất hiện một trong các tình tiết định khung quy định tại Khoản 2, người phạm tội sẽ đối mặt với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Một số tình tiết phổ biến gồm:

  • Phạm tội có tổ chức;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;
  • Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
  • Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
  • Đối với người đang cai nghiện;
  • Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Gây bệnh tâm thần và hành vi của người khác từ 11% đến 45%;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Tình tiết “tái phạm nguy hiểm” và “đối với 02 người trở lên” là các căn cứ định khung rất phổ biến trong thực tiễn xét xử, dễ dàng làm tăng nặng mức hình phạt của người thực hiện hành vi lên Khoản 2.

3.2. Trường hợp đặc biệt dẫn đến mức án 20 năm hoặc tù chung thân

Tại Khoản 4 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có mức phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. Khung hình phạt này được áp dụng khi hành vi tổ chức sử dụng ma túy dẫn đến hậu quả làm chết 02 người trở lên, hoặc gây tổn hại đặc biệt nặng nề đến sức khỏe và tâm thần của người khác.

Hậu quả “làm chết người” không yêu cầu người phạm tội phải có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng. Chỉ cần 01 người tham gia tử vong do sốc thuốc hoặc biến chứng trực tiếp từ buổi tổ chức sử dụng ma túy, người đứng ra tổ chức có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 3 Điều này với mức phạt lên đến 20 năm tù.

Nếu hậu quả làm chết từ 02 người trở lên, khung hình phạt áp dụng sẽ là từ 20 năm tù hoặc tù chung thân theo Khoản 4 Điều này. Trong những vụ việc này, người nhà của nạn nhân tử vong với tư cách bị hại nên tìm đến luật sư bảo vệ quyền lợi bị hại đương sự để hỗ trợ giám sát quy trình tố tụng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3.3. Hình phạt bổ sung và hệ quả pháp lý đi kèm

Bên cạnh hình phạt chính, Khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội có thể phải chịu hình phạt bổ sung. Các hình phạt này gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Các hình phạt bổ sung như cấm hành nghề hay tịch thu tài sản ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sau khi chấp hành xong án phạt tù. Đối với phán quyết sơ thẩm, nếu người bị buộc tội nhận thấy mức án quá nghiêm khắc, họ có thể nhờ luật sư soạn đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhằm tìm kiếm cơ hội giảm nhẹ án tại phiên tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa Phúc thẩm TAND tối cao.

4. Những lưu ý quan trọng và rủi ro pháp lý thường gặp

4.1. Hiểu đúng về hành vi “góp tiền” để cùng sử dụng ma túy

Một trong những trường hợp thực tế phức tạp là hành vi góp tiền mua ma túy sử dụng chung. Nhiều người cho rằng hành động này chỉ cấu thành hành vi sử dụng trái phép thông thường, không phải tổ chức sử dụng.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Mục II Khoản 6.2 Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, nếu có người đứng ra chủ trì thu tiền, liên hệ mua ma túy, chuẩn bị địa điểm hoặc cung cấp dụng cụ cho cả nhóm cùng sử dụng, hành vi này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ranh giới pháp lý nằm ở vai trò điều phối chủ động, chứ không phụ thuộc vào việc có mục đích lợi nhuận hay không.

4.2. Quyền lợi và hướng xử lý khi bị điều tra theo Điều 255

Khi bị tạm giữ hoặc tạm giam để phục vụ công tác điều tra, người bị buộc tội được pháp luật bảo đảm các quyền tố tụng quan trọng. Họ có quyền biết rõ lý do bị giam giữ; quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (theo Điều 60, Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự); quyền nhờ người bào chữa tham gia bảo vệ ngay từ giai đoạn đầu.

Việc xác định rõ các mốc tố tụng giúp người bị buộc tội chủ động bảo vệ quyền lợi của mình. Bạn có thể tham khảo thêm về quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự để biết chi tiết thời gian tạm giữ, tạm giam tối đa đối với các tội danh về ma túy.

4.3. Tại sao cần luật sư hình sự tham gia định hướng sớm?

Trong vụ án ma túy, vai trò của luật sư không chỉ dừng lại ở việc tranh tụng tại tòa. Việc có sự đồng hành của luật sư bào chữa bị can bị cáo ngay từ giai đoạn điều tra giúp làm rõ vai trò thực tế của từng chủ thể, tránh việc bị quy kết nhầm từ vai trò người tham gia sử dụng sang vai trò tổ chức sử dụng.

Sự tham gia sớm của người bảo vệ cũng ngăn ngừa các sai sót tố tụng hoặc lời khai bất lợi trong hồ sơ vụ án. Nếu bạn hoặc người thân đang đối mặt với các cáo buộc hình sự về ma túy, việc liên hệ luật sư tư vấn luật hình sự có kinh nghiệm thực chiến là giải pháp bảo vệ quyền lợi hiệu quả nhất.

Mỗi vụ án ma túy có các tình tiết chứng cứ và mức độ hành vi rất khác biệt. Kết quả tố tụng phụ thuộc lớn vào việc thu thập chứng cứ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh và quá trình xét xử của tòa án có thẩm quyền.

Kết luận

Tóm lại, Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt rất nghiêm khắc với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Việc xác định rõ ranh giới pháp lý, vai trò trong vụ án và chủ động thực hiện quyền tố tụng là chìa khóa để bảo vệ bản thân và người thân trước các rủi ro pháp lý lớn.

Nếu cần hỗ trợ pháp lý chi tiết theo hồ sơ vụ án thực tế, bạn có thể liên hệ trực tiếp với đội ngũ Luật sư vụ án ma tuý qua số hotline 0988 052 761 để được tư vấn kịp thời.

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật sư Hình sự để được hướng dẫn cụ thể.

5. Câu hỏi thường gặp về Điều 255 Bộ luật Hình sự

5.1. Góp tiền mua ma túy sử dụng chung có phạm tội tổ chức không?

Nếu chỉ đơn thuần góp tiền chia đều chi phí mua ma túy rồi cùng sử dụng chung thì hành vi này không phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, nếu có người đứng ra chủ trì thu tiền, liên hệ mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ hoặc địa điểm để cả nhóm cùng dùng, người đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

5.2. Cho người khác mượn phòng bay lắc có phạm tội tổ chức không?

Hành vi cho mượn địa điểm hoặc phòng bay lắc để người khác sử dụng ma túy thường cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, nếu người cho mượn địa điểm trực tiếp tham gia chuẩn bị ma túy, rủ rê người chơi hoặc điều phối buổi sử dụng tập thể, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng ma túy theo Điều 255.

5.3. Tội tổ chức sử dụng ma túy có được hưởng án treo không?

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có khung hình phạt thấp nhất từ 02 đến 07 năm tù. Nếu người phạm tội bị tuyên mức án tù dưới 03 năm, có nhân thân tốt và có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, Tòa án nhân dân khu vực có thể xem xét cho hưởng án treo. Đối với các khung hình phạt nặng hơn từ Khoản 2 trở lên, cơ hội hưởng án treo là rất thấp.

Chia sẻ:
Facebook
Email
X

Bài viết liên quan

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Ngoại tình có bị đi tù không? Pháp luật Việt Nam không có tội ngoại tình. Tuy nhiên, chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả có thể bị truy cứu theo Điều 182 BLHS với mức phạt tù đến 03 năm.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh

Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử lý hành vi

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 BLHS 2015 có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Bài viết phân tích cấu thành tội phạm, 4 khung hình phạt, phân biệt với tội tham ô (Điều 353), nhận hối lộ (Điều 354) và quyền bào chữa của bị can.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Nhận hối lộ bao nhiêu thì bị truy tố? Ngưỡng truy cứu TNHS từ 2 triệu đồng. Dưới 2 triệu vẫn bị truy tố nếu đã bị kỷ luật hoặc hối lộ phi vật chất. Từ 01/7/2025, Luật 86/2025 đã bỏ tử hình với tội nhận hối lộ; mức cao nhất còn tù chung thân.
Mục lục