Bảo vệ công lý – Bảo vệ quyền con người

CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH QUAN TRỌNG CẦN BIẾT NĂM 2026

căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là yếu tố pháp lý nền tảng quyết định việc cơ quan có thẩm quyền có được phép mở giai đoạn tố tụng hình sự hay không. Không phải mọi tin báo hay nghi vấn nào cũng đủ cơ sở để ra quyết định khởi tố. Pháp luật tố tụng hình sự quy định rõ: chỉ khi xác định được dấu hiệu tội phạm từ những nguồn thông tin được thừa nhận, cơ quan chức năng mới được tiến hành khởi tố.

Việc nắm rõ các quy định này giúp người dân đánh giá chính xác tình huống mình đang đối mặt và có cách ứng xử phù hợp với pháp luật.

1. Hiểu đúng về căn cứ khởi tố vụ án hình sự

căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là điều kiện bắt buộc trước khi cơ quan tố tụng chính thức mở vụ án

1.1. Khởi tố vụ án hình sự là gì?

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự. Đây là thời điểm cơ quan có thẩm quyền chính thức xác định có sự kiện pháp lý cần tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật hình sự.

Cần phân biệt rõ giữa khởi tố vụ ánkhởi tố bị can (hai khái niệm thường bị nhầm lẫn). Khởi tố vụ án là quyết định mở cuộc điều tra về một sự việc có dấu hiệu tội phạm, chưa nhất thiết xác định người phạm tội. Khởi tố bị can là bước tiếp theo, khi Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hoặc Công an cấp xã (trong phạm vi thẩm quyền) đã có đủ căn cứ xác định một người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội đó. Hai giai đoạn này có thể cách nhau về mặt thời gian và không đương nhiên đi liền với nhau.

1.2. Tại sao phải xác định căn cứ trước khi ra quyết định khởi tố?

Yêu cầu phải có căn cứ khởi tố vụ án hình sự trước khi ra quyết định là nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong tố tụng. Nếu không có quy định này, mọi tin tố cáo thiếu cơ sở đều có thể kéo một người vào vòng điều tra hình sự, gây ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, uy tín và cuộc sống của họ.

Điều kiện tiên quyết theo quy định pháp luật là: chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu tội phạm là gì? Đó là những biểu hiện bước đầu cho thấy hành vi có thể đáp ứng các yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự, dù chưa đưa ra kết luận cuối cùng. Đây là tiêu chí để cơ quan tiến hành tố tụng tự kiểm soát, tránh khởi tố tùy tiện hoặc bị lợi dụng cho mục đích khác.

2. Các căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật 99/2025/QH15). Theo đó, chỉ có thể khởi tố vụ án khi đã tiếp nhận và xác minh thông tin từ các nguồn được pháp luật thừa nhận. Dưới đây là các nguồn căn cứ theo quy định mới nhất.

2.1. Tố giác của cá nhân và tin báo của cơ quan, tổ chức

Tố giác tin báo về tội phạm từ cá nhân là nguồn thông tin phổ biến nhất trong thực tiễn. Đây là trường hợp một người phát hiện hoặc có thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm và chủ động thực hiện việc tố giác tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, tin báo có thể đến từ cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội hoặc doanh nghiệp khi họ phát hiện dấu hiệu tội phạm trong phạm vi hoạt động của mình. Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng việc tố giác hay tin báo không đồng nghĩa với việc khởi tố sẽ tự động xảy ra, do đó Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hoặc Công an cấp xã vẫn phải tiến hành xác minh trước khi ra quyết định.

2.2. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Thông tin được đăng tải trên báo chí, phát thanh, truyền hình hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác cũng được pháp luật thừa nhận là một nguồn căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Đây là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền chủ động vào cuộc dù chưa có ai trực tiếp tố giác.

Tuy nhiên, không phải mọi thông tin trên mạng xã hội hay tin đồn không rõ nguồn gốc đều được xem là tin báo hợp lệ. Thông tin phải đến từ các phương tiện thông tin đại chúng được thừa nhận và có nội dung cụ thể về hành vi có dấu hiệu tội phạm.

2.3. Cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm

Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an cấp tỉnh, VKSND khu vực, TAND khu vực, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan nhà nước khác khi thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện dấu hiệu tội phạm thì có trách nhiệm chuyển thông tin cho cơ quan có thẩm quyền hoặc trực tiếp khởi tố theo thẩm quyền.

Đây là trường hợp cơ quan chức năng chủ động phát hiện trong quá trình kiểm tra, thanh tra, xử lý công việc chuyên môn, chứ không phụ thuộc vào việc có ai đó trình báo hay không. Điều này cho thấy việc khởi tố vụ án không chỉ xuất phát từ phía người dân mà còn từ nội bộ hệ thống cơ quan nhà nước.

2.4. Người phạm tội tự thú và kiến nghị khởi tố

Người thực hiện hành vi tội phạm tự nguyện đến cơ quan có thẩm quyền khai báo về hành vi của mình cũng là một trong những căn cứ được ghi nhận. Đây là trường hợp tự thú, và Bộ luật Hình sự quy định tự thú là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc khởi tố vụ án vẫn được tiến hành nếu có đầy đủ dấu hiệu tội phạm.

Kiến nghị khởi tố là nguồn căn cứ từ các cơ quan nhà nước khác, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng không thuộc thẩm quyền điều tra của mình. Các cơ quan này có trách nhiệm kiến nghị bằng văn bản gửi đến Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh để xem xét, xử lý theo quy định.

3. Quy trình xác minh căn cứ để ra quyết định khởi tố

quy trình xác minh tin báo tố giác tội phạm trước khi khởi tố vụ án hình sự
Quy trình xác minh tin báo, tố giác là bước bắt buộc trước khi ra quyết định khởi tố vụ án

Khi tiếp nhận thông tin có liên quan đến căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hoặc Công an cấp xã không được ra quyết định ngay mà phải trải qua giai đoạn kiểm tra, xác minh theo quy định của pháp luật tố tụng.

3.1. Thời hạn kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Luật 99/2025/QH15), sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hoặc Công an cấp xã (trong phạm vi thẩm quyền) phải kiểm tra, xác minh và ra quyết định trong thời hạn 20 ngày.

Quá trình tiếp nhận, phân loại và xác minh này được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư liên tịch 01/2021/TTLT). Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn này có thể được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, thời hạn gia hạn có thể kéo dài nhưng không quá 04 tháng.

Đây là giai đoạn được gọi là tiền khởi tố hoặc giai đoạn xác minh ban đầu. Trong thời gian này, cơ quan CSĐT có thể tiến hành một số hoạt động nghiệp vụ để làm rõ dấu hiệu tội phạm, nhưng chưa chính thức tiến hành điều tra đối với bị can.

3.2. Các loại quyết định sau khi kết thúc xác minh

Sau khi hoàn tất xác minh, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra một trong hai quyết định: quyết định khởi tố vụ án nếu xác định có dấu hiệu tội phạm, hoặc quyết định không khởi tố vụ án nếu không có căn cứ để khởi tố. Quyết định không khởi tố phải được gửi cho VKSND khu vực hoặc VKSND cấp tỉnh có thẩm quyền để kiểm sát việc tuân theo pháp luật.

Người đã tố giác, tin báo về tội phạm hoặc người bị tố giác đều có quyền được thông báo về kết quả giải quyết. Nếu người tố giác không đồng ý với quyết định không khởi tố, họ có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

4. Lưu ý quan trọng để bảo vệ quyền lợi khi có căn cứ khởi tố

Giai đoạn xác minh căn cứ khởi tố vụ án hình sự là thời điểm nhiều người chưa chú ý đến quyền lợi của mình. Đây lại chính là lúc mà cách ứng xử đúng đắn có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể cho kết quả sau này.

4.1. Quyền của người bị tố giác trong giai đoạn tiền khởi tố

Người bị tố giác trong giai đoạn xác minh chưa phải là bị can và chưa bị xác định là có tội. Họ có quyền trình bày ý kiến về nội dung tố giác, quyền được thông báo về kết quả giải quyết tố giác và quyền khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng nếu có căn cứ cho rằng không đúng pháp luật.

Một rủi ro thực tế thường gặp là người bị tố giác không nắm rõ quyền của mình, dẫn đến việc cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc không có lợi cho mình trong quá trình làm việc với cơ quan xác minh. Điều này có thể ảnh hưởng đến hướng xử lý sau khi kết thúc xác minh, dù chưa đưa ra kết luận chính thức nào về tội phạm.

Ngoài ra, người dân tuyệt đối không nên tự ý xử lý tin báo tố giác khi chưa hiểu rõ quy định pháp luật. Việc tự thương lượng, gây sức ép với bên kia, hoặc cung cấp thông tin không đúng cho cơ quan xác minh có thể tạo ra căn cứ không thuận lợi trong giai đoạn tố tụng tiếp theo, thậm chí phát sinh thêm rủi ro pháp lý khác.

4.2. Thời điểm cần sự hỗ trợ chuyên môn từ Luật sư hình sự

Nhiều người cho rằng chỉ cần có luật sư khi vụ án đã được khởi tố hoặc khi ra tòa. Thực tế, giai đoạn xác minh tin báo, tố giác, tức là trước khi có căn cứ khởi tố vụ án hình sự, là thời điểm mà sự tư vấn luật hình sự đúng hướng có thể mang lại hiệu quả phòng ngừa rủi ro rất lớn.

Tại giai đoạn này, một luật sư hình sự có kinh nghiệm có thể giúp người liên quan hiểu rõ quyền của mình, chuẩn bị tài liệu và thông tin một cách hợp pháp, tránh những sai lầm trong khai báo hoặc ứng xử có thể bị diễn giải bất lợi sau này. Việc có định hướng đúng từ sớm giúp hạn chế rủi ro oan sai, đặc biệt trong những vụ việc mà bản chất sự việc phức tạp hoặc còn nhiều điểm chưa rõ ràng.

Nếu bạn hoặc người thân đang là đối tượng bị tố giác, tin báo hoặc liên quan đến vụ việc đang trong giai đoạn xác minh, việc tham khảo ý kiến của Luật Sư Hình Sự ngay từ sớm là bước thận trọng và cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Tóm lược

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự không tự động phát sinh khi có tin tố giác. Pháp luật tố tụng hình sự quy định rõ ràng về 6 nguồn căn cứ theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Luật 99/2025/QH15), cùng quy trình xác minh có thời hạn cụ thể trước khi Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hoặc Công an cấp xã ra quyết định. Việc nắm rõ các căn cứ này là nền tảng vững chắc để tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp đúng pháp luật.

Nếu cần làm rõ tình huống cụ thể hoặc tìm hiểu thêm về quyền lợi trong giai đoạn tiền khởi tố, bạn có thể liên hệ với Luật sư bào chữa của chúng tôi qua hotline 0988 052 761 hoặc email luatsuhinhsu.hcm@gmail.com để được hỗ trợ thêm.

5. Câu hỏi thường gặp về căn cứ khởi tố vụ án hình sự

5.1. Có mấy căn cứ để khởi tố vụ án hình sự?

Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi năm 2025), có 6 nguồn thông tin được thừa nhận để xác định dấu hiệu tội phạm và làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự, bao gồm: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm và người phạm tội tự thú.

5.2. Cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự sau cải cách năm 2025?

Sau khi bỏ cấp điều tra cấp huyện từ năm 2025, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thuộc về Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh và Cơ quan CSĐT Bộ Công an. Ngoài ra, Trưởng Công an, Phó Công an cấp xã là Điều tra viên cũng được phân công thẩm quyền khởi tố, điều tra đối với các vụ án ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã.

5.3. Thời hạn xác minh tin báo tố giác tội phạm trước khi khởi tố là bao lâu?

Thời hạn kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác tội phạm thông thường là 20 ngày kể từ ngày nhận được thông tin. Trong trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn này có thể được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Đối với trường hợp đặc biệt phức tạp, thời hạn có thể lên đến 04 tháng.

5.4. Người bị tố giác có quyền gì trong giai đoạn tiền khởi tố?

Trong giai đoạn tiền khởi tố (giai đoạn xác minh), người bị tố giác chưa phải là bị can. Họ có quyền được giải trình, trình bày ý kiến về nội dung tố giác, đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh sự vô tội của mình, được thông báo kết quả giải quyết và có quyền khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng không đúng pháp luật của cơ quan chức năng.

5.5. Viện kiểm sát có quyền tự mình khởi tố vụ án hình sự không?

Có. Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực hoặc VKSND cấp tỉnh có quyền trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, hoặc khi Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án hình sự qua việc xét xử tại phiên tòa.

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật sư Hình Sự để được hướng dẫn cụ thể.

Chia sẻ:
Facebook
Email
X

Bài viết liên quan

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Ngoại tình có bị đi tù không? Pháp luật Việt Nam không có tội ngoại tình. Tuy nhiên, chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả có thể bị truy cứu theo Điều 182 BLHS với mức phạt tù đến 03 năm.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh

Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử lý hành vi

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 BLHS 2015 có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Bài viết phân tích cấu thành tội phạm, 4 khung hình phạt, phân biệt với tội tham ô (Điều 353), nhận hối lộ (Điều 354) và quyền bào chữa của bị can.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Nhận hối lộ bao nhiêu thì bị truy tố? Ngưỡng truy cứu TNHS từ 2 triệu đồng. Dưới 2 triệu vẫn bị truy tố nếu đã bị kỷ luật hoặc hối lộ phi vật chất. Từ 01/7/2025, Luật 86/2025 đã bỏ tử hình với tội nhận hối lộ; mức cao nhất còn tù chung thân.

Mục lục bài viết

Mục lục