Quy định về giám định thương tật trong hình sự trực tiếp quyết định việc xác định tội danh và mức độ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Khác với chứng cứ thông thường, kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ chuyên môn được cơ quan tố tụng sử dụng trực tiếp để đối chiếu với các dấu hiệu định tội trong Bộ luật Hình sự.
1. Bản chất của giám định thương tật trong tố tụng hình sự

1.1. Giám định thương tật là gì?
Giám định thương tật trong tố tụng hình sự là hoạt động do tổ chức giám định pháp y thực hiện nhằm xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của người bị hại do hành vi xâm phạm của người khác gây ra. Đây là dạng giám định tư pháp được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Giám định tư pháp, thuộc nhóm chứng cứ có giá trị chứng minh đặc biệt.
Theo tổ chức cơ quan tố tụng hiện hành từ năm 2025, hoạt động giám định pháp y được thực hiện bởi các tổ chức giám định pháp y công lập cấp tỉnh (Trung tâm Pháp y cấp tỉnh) hoặc cấp trung ương trực thuộc Bộ Y tế (Viện Pháp y Quốc gia), hoàn toàn không tổ chức lực lượng giám định viên pháp y tại cơ quan Công an cấp huyện do cấp này đã giải thể.
Kết quả giám định được lập thành kết luận giám định bằng văn bản, nêu rõ tỷ lệ tổn thương cơ thể theo thang phân loại chuyên môn. Đây là kết luận chính thức của tổ chức giám định tư pháp được Nhà nước công nhận, không phải ý kiến cá nhân của bác sĩ điều trị.
1.2. Vai trò của kết luận giám định trong việc xác định tội danh
Trong nhiều vụ án hình sự liên quan đến hành vi xâm phạm sức khỏe con người, giám định tỷ lệ thương tật hình sự là cơ sở không thể thiếu để phân biệt tội danh và xác định khung hình phạt tương ứng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể quyết định việc xử lý hành chính hay hình sự, đồng thời là căn cứ định khung hình phạt cụ thể.
Cụ thể, các tội như cố ý gây thương tích, vô ý gây thương tích hoặc các tội liên quan đến tai nạn giao thông đều có dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt gắn liền với tỷ lệ tổn thương cơ thể. Thiếu kết luận giám định hợp lệ, cơ quan điều tra (Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh) và viện kiểm sát (VKSND khu vực hoặc VKSND cấp tỉnh) sẽ không có căn cứ xác định trách nhiệm hình sự.
Ví dụ điển hình là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ở tội danh này, tỷ lệ tổn thương cơ thể là yếu tố quyết định để phân định khung hình phạt cụ thể:
- Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Áp dụng khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% (hoặc dưới 11% nhưng thuộc một số trường hợp đặc biệt). Hình phạt cao nhất là 03 năm tù, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực.
- Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Áp dụng khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc các tình tiết tăng nặng quy định tại Khoản 1). Hình phạt cao nhất là 05 năm tù, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực.
- Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Áp dụng khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng có thêm các tình tiết tăng nặng quy định tại Khoản 1, hoặc tỷ lệ từ 11% đến 30% nhưng sử dụng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm. Hình phạt cao nhất là 10 năm tù, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực.
- Khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Áp dụng khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên (nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 5) hoặc gây thương tích dẫn đến tử vong. Hình phạt cao nhất là 14 năm tù, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực.
- Khoản 5 Điều 134 Bộ luật Hình sự: Áp dụng khi dẫn đến chết 02 người trở lên, hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên… Hình phạt cao nhất là tù chung thân, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
2. Quy định về trưng cầu giám định thương tật
2.1. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Quy định về giám định thương tật trong hình sự được ghi nhận cụ thể tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, trưng cầu giám định pháp y là bắt buộc để xác định mức độ tổn hại sức khỏe của người bị hại. Đây là thủ tục bắt buộc mà cơ quan tiến hành tố tụng không thể bỏ qua, dù đã có các chứng cứ khác chứng minh hành vi phạm tội.
Thủ tục bắt buộc trưng cầu giám định bảo đảm tính khách quan: tỷ lệ thương tật không thể xác định bằng suy đoán hay nhận định cảm tính, mà phải dựa trên kết luận chuyên môn của tổ chức giám định tư pháp có thẩm quyền. Bỏ qua bước này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm giảm giá trị chứng minh của hồ sơ vụ án.
2.2. Thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, gồm Cơ quan điều tra (Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan CSĐT Bộ Công an), Viện kiểm sát (VKSND khu vực hoặc VKSND cấp tỉnh) và Tòa án (TAND khu vực hoặc TAND cấp tỉnh) tùy theo giai đoạn tố tụng. Quyết định trưng cầu giám định phải được lập thành văn bản và gửi đến tổ chức thực hiện giám định.
Ngoài cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, bị hại và người đại diện hợp pháp cũng có quyền yêu cầu trưng cầu giám định. Yêu cầu này phải gửi bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án để xem xét quyết định. Đây là công cụ pháp lý quan trọng để các bên chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3. Thời hạn và cách thức xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể

3.1. Thời hạn thực hiện giám định theo quy định pháp luật
Thời hạn giám định thương tật được tính từ ngày tổ chức hoặc cá nhân giám định nhận đủ hồ sơ, đối tượng giám định và các tài liệu liên quan theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Đối với giám định tổn hại sức khỏe trong tố tụng hình sự, thời hạn tối đa là 01 tháng (theo Điểm b Khoản 1 Điều 208 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, hoặc đối với các trường hợp phức tạp quy định tại Khoản 2 Điều 26a Luật Giám định tư pháp sửa đổi 2020, thời hạn giám định không quá 09 ngày (hoặc không quá 01 tháng đối với vụ việc có tính chất phức tạp). Nếu cần gia hạn, tổ chức giám định phải có văn bản giải trình lý do và thông báo kịp thời cho cơ quan trưng cầu.
3.2. Căn cứ tính tỷ lệ phần trăm thương tật
Căn cứ pháp lý để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể trong giám định pháp y là Thông tư 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế. Văn bản này quy định chi tiết bảng tỷ lệ tổn thương đối với từng vùng cơ thể, loại thương tích và mức độ ảnh hưởng chức năng của nạn nhân.
Tổ chức giám định pháp y kết hợp bảng tỷ lệ này với kết quả khám lâm sàng và hồ sơ bệnh án để đưa ra kết luận. Tỷ lệ tổn thương cơ thể trong tố tụng hình sự độc lập với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động hoặc tỷ lệ chi trả bảo hiểm vốn áp dụng các bảng quy chuẩn riêng.
Bạn có thể tham khảo bài viết một số lưu ý, bất cập trong việc giám định tỷ lệ thương tật của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội.
4. Quyền của các bên liên quan đối với kết luận giám định thương tật
4.1. Quyền được thông báo về kết luận giám định
Quy định về giám định thương tật trong hình sự xác lập rõ quyền của đương sự đối với kết quả giám định. Sau khi có kết luận giám định, cơ quan trưng cầu có trách nhiệm thông báo kết quả cho bị can, bị cáo và bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng.
Thông báo này làm cơ sở để các bên đối chiếu kết quả với bệnh án thực tế, từ đó thực hiện quyền yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại nếu phát hiện sai sót.
4.2. Khi nào nên yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại?
Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép các đương sự yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện khi kết luận giám định chưa rõ ràng, chưa đầy đủ hoặc phát sinh tình tiết mới cần làm rõ. Giám định lại được tiến hành khi có căn cứ cho rằng kết luận giám định trước đó không chính xác hoặc quy trình thực hiện vi phạm pháp luật.
Các trường hợp cụ thể cần xem xét gồm:
- Kết luận giám định có sai lệch rõ ràng so với hồ sơ bệnh án hoặc kết quả điều trị thực tế của người bị hại.
- Giám định viên không đủ thẩm quyền hoặc năng lực chuyên môn theo quy định đối với loại tổn thương cần giám định.
- Quy trình giám định có dấu hiệu vi phạm về thu thập mẫu, bảo quản đối tượng giám định hoặc lập hồ sơ giám định.
- Xuất hiện chứng cứ mới có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tổn thương cơ thể đã được kết luận.
Cơ quan tiến hành tố tụng có thể tự mình hoặc chấp thuận yêu cầu bằng văn bản của đương sự để quyết định việc giám định bổ sung hoặc giám định lại tùy theo hồ sơ vụ án.
4.3. Lưu ý khi làm việc với cơ quan chức năng về kết quả thương tật
Để phản bác hoặc yêu cầu xem xét lại kết luận giám định thương tật, các bên liên quan phải gửi yêu cầu bằng văn bản nêu rõ căn cứ pháp lý và thực tế. Việc từ chối kết quả bằng lời nói mà không lập văn bản theo trình tự tố tụng sẽ không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.
Rủi ro thường gặp là việc giám định được tiến hành khi thương tích chưa ổn định, dẫn đến tỷ lệ tổn thương cơ thể thực tế thay đổi sau điều trị. Do đó, đương sự cần yêu cầu giám định lại sau khi thương tích đã ổn định hoàn toàn để bảo đảm quyền lợi chính xác.
Cần phân biệt kết luận của bác sĩ điều trị và kết luận giám định tư pháp. Hồ sơ bệnh án hay giấy ra viện chỉ là tài liệu tham khảo, không có giá trị chứng cứ trực tiếp định tội như kết luận chính thức của tổ chức giám định tư pháp được Nhà nước công nhận.
Khi đối diện với các vụ án hình sự có yêu cầu giám định thương tật, việc tham vấn ý kiến luật sư chuyên môn sẽ giúp kiểm tra tính pháp lý của kết luận giám định và thực hiện các quyền tố tụng kịp thời. Bạn có thể liên hệ Luật Sư Hình Sự để nhận tư vấn chi tiết.
Tổng kết
Quy định về giám định thương tật trong hình sự là căn cứ đặc biệt quan trọng quyết định kết quả giải quyết vụ án. Khi có vướng mắc hoặc cần phản bác kết luận giám định pháp y, hãy liên hệ đội ngũ luật sư bảo vệ bị hại của chúng tôi qua hotline 0988 052 761 hoặc email luatsuhinhsu.hcm@gmail.com để được hỗ trợ bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
*Lưu ý: Thông tin trên đây mang tính chất tham khảo, không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Luật sư Hình Sự để được hướng dẫn phương án cụ thể phù hợp với hồ sơ vụ án.







