Bảo vệ công lý – Bảo vệ quyền con người

ĐÁNH ĐẬP TRẺ EM PHẠM TỘI GÌ? RANH GIỚI HÀNH CHÍNH VÀ HÌNH SỰ

đánh đập trẻ em phạm tội gì

Đánh đập trẻ em phạm tội gì? Câu hỏi nhiều người đặt ra khi nhìn thấy hoặc nghi ngờ một vụ bạo hành trẻ em. Tùy vào tính chất, mức độ và hậu quả thực tế, hành vi này có thể chỉ bị xử phạt hành chính, hoặc bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo nhiều tội danh khác nhau.

Quyền trẻ em được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, xâm hại đã được ghi nhận tại khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 và các Điều 4, Điều 6 Luật Trẻ em 2016. Đây là nền tảng để pháp luật xử lý nghiêm hành vi đánh đập, hành hạ trẻ em, bất kể xảy ra trong gia đình hay ngoài xã hội.

1. Hành vi đánh đập trẻ em bị xử lý hành chính thế nào?

Bạo hành trẻ em bị phạt như thế nào khi chưa đến mức nghiêm trọng? Nếu hành vi đánh đập chưa gây thương tích đáng kể hoặc chưa mang tính hành hạ kéo dài, người vi phạm trước hết bị xử phạt hành chính theo Nghị định 130/2021/NĐ-CP và Nghị định 282/2025/NĐ-CP, với mức phạt tiền cụ thể tùy hành vi. Trước khi trả lời chi tiết đánh đập trẻ em phạm tội gì, cần biết rằng không phải mọi hành vi đều bị xử lý hình sự ngay.

Điều 22 Nghị định 130/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi bạo lực trẻ em. Các hành vi bị xử phạt theo mức này bao gồm:

  • Bắt nhịn ăn, nhịn uống
  • Gây tổn hại tinh thần, lăng mạ trẻ em
  • Cô lập, xua đuổi, dọa nạt trẻ em

Nói cách khác, bạo hành trẻ em bị phạt như thế nào sẽ phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả xảy ra. Nếu trẻ là thành viên trong gia đình, hành vi đánh đập còn có thể bị xử phạt theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (có hiệu lực từ ngày 15/12/2025, thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP). Theo đó, hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc cố ý xâm hại sức khỏe, tính mạng của thành viên gia đình có thể bị phạt tiền đến 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Mức phạt tối đa trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đối với cá nhân và 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) đối với tổ chức. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là 01 năm kể từ ngày thực hiện hành vi.

đánh đập trẻ em phạm tội gì
Xử phạt hành chính là bước xử lý đầu tiên khi hành vi bạo hành chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

2. Đánh đập trẻ em phạm tội gì theo Bộ luật Hình sự?

Đánh đập trẻ em phạm tội gì khi hành vi vượt quá mức xử phạt hành chính? Khi việc đánh đập gây thương tích, mang tính đối xử tàn ác kéo dài hoặc dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Tội cố ý gây thương tích, Tội hành hạ người khác hoặc các tội danh nghiêm trọng hơn, tùy tính chất vụ việc và kết quả điều tra.

Tội hành hạ trẻ em và tội cố ý gây thương tích cho trẻ em là hai hướng xử lý hình sự phổ biến nhất trong các vụ việc thực tế, tuy khác nhau về bản chất hành vi và tình tiết định khung.

2.1. Có dấu hiệu của Tội cố ý gây thương tích (Điều 134)

Cố ý gây thương tích cho trẻ em là một trong những hướng xử lý hình sự phổ biến nhất khi đánh đập trẻ để lại dấu vết trên cơ thể. Đây là một trong những căn cứ chính để xác định đánh đập trẻ em phạm tội gì khi có dấu hiệu cố ý gây tổn hại sức khỏe. Điểm đặc biệt của tội danh này là dù tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vì nạn nhân là người dưới 16 tuổi.

“c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;”

(điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự)

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, mức phạt áp dụng là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể của trẻ cao hơn, mức phạt bạo lực trẻ em tăng dần theo khoản 2 và khoản 3 Điều 134: từ 31% đến 60% bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm; từ 61% trở lên bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Trường hợp hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định mức phạt tù từ 07 năm đến 14 năm. Đây là ranh giới quan trọng cần phân biệt với Tội giết người: nếu người thực hiện chỉ có ý định gây thương tích, hậu quả chết người nằm ngoài ý muốn thì xem xét theo khoản 4 Điều 134; nếu có ý định tước đoạt tính mạng của trẻ thì mới xem xét theo Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2.2. Có nguy cơ cấu thành Tội hành hạ người khác (Điều 140)

Tội hành hạ trẻ em thường được xem xét khi hành vi đánh đập không chỉ là một lần tác động mà lặp đi lặp lại, mang tính đối xử tàn ác hoặc làm nhục kéo dài đối với trẻ đang lệ thuộc người thực hiện hành vi.

“đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”

(khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự)

Khi nạn nhân là trẻ em, mức phạt tăng lên theo khoản 2 Điều 140, với khung phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

“a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên.”

(khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự)

Tội hành hạ người khác khác với Tội cố ý gây thương tích ở bản chất hành vi. Hành hạ là sự xúc phạm thể xác, tinh thần diễn ra có tính hệ thống, kéo dài; còn cố ý gây thương tích là hành vi tác động lực trực tiếp gây tổn hại sức khỏe, đo được bằng tỷ lệ tổn thương cơ thể. Việc phân biệt này quyết định cơ quan tố tụng sẽ xem xét theo tội danh nào.

2.3. Các tội danh liên quan khác khi xảy ra hậu quả nghiêm trọng

Khi hành vi đánh đập gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như trẻ tử vong, hoặc mang tính ngược đãi kéo dài trong quan hệ gia đình, người thực hiện có thể bị xem xét về các tội danh nặng hơn, gồm Tội giết người, Tội vô ý làm chết người hoặc Tội ngược đãi. Đây cũng là phần quan trọng khi xác định đánh đập trẻ em phạm tội gì trong những vụ việc có hậu quả nghiêm trọng.

Nếu hành vi đánh đập dẫn đến việc trẻ dưới 16 tuổi tử vong và có dấu hiệu cố ý, người thực hiện có thể bị xem xét về Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Trường hợp hậu quả tử vong xảy ra ngoài ý muốn, cơ quan tố tụng có thể xem xét theo Tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 128 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tùy hồ sơ và quy định áp dụng.

Riêng trường hợp người thực hiện hành vi có quan hệ ông bà, cha mẹ hoặc người có công nuôi dưỡng trẻ, hành vi ngược đãi kéo dài có thể bị xem xét theo Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình quy định tại Điều 185 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tùy hồ sơ và quy định áp dụng. Tương tự như trường hợp phạm tội đánh bạc lần đầu, việc xác định tội danh cụ thể đối với hành vi bạo hành trẻ em cũng phụ thuộc nhiều vào chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và kết quả điều tra thực tế.

3. Thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết vụ án bạo hành trẻ em

Công an cấp xã là nơi tiếp nhận tố giác, tin báo đầu tiên khi có dấu hiệu đánh đập, bạo hành trẻ em. Từ ngày 01/3/2025, Công an cấp huyện đã kết thúc hoạt động. Từ ngày 01/7/2025, Điều tra viên trung cấp hoặc Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã, khi được phân công, có thể trực tiếp khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn nếu đáp ứng đủ điều kiện; các trường hợp còn lại thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Công an nhân dân cấp tỉnh.

Về xét xử, TAND khu vực đảm nhiệm xét xử sơ thẩm đối với các tội danh có khung hình phạt cao nhất đến 20 năm tù, bao gồm Tội hành hạ người khác theo Điều 140 và các khoản của Tội cố ý gây thương tích theo Điều 134. Đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt trên 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình như Tội giết người trẻ em theo Điều 123, TAND cấp tỉnh trực tiếp xét xử sơ thẩm.

Nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thẩm quyền xét xử phúc thẩm được xác định theo cấp Tòa án đã xét xử sơ thẩm: bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử phúc thẩm; bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh do Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm. Việc xác định đánh đập trẻ em phạm tội gì trong từng vụ việc cụ thể còn phụ thuộc vào kết quả điều tra và tài liệu, chứng cứ thu thập được. Người phát hiện hành vi bạo hành nên trình báo sớm với công an cấp xã gần nhất để vụ việc được xử lý đúng trình tự, tránh bỏ lỡ chứng cứ quan trọng.

quy trình xử lý vụ án bạo hành trẻ em
Việc trình báo sớm giúp cơ quan chức năng thu thập chứng cứ kịp thời và xác định đúng hướng xử lý.

Đánh đập trẻ em phạm tội gì phụ thuộc vào việc hành vi đó gây ra hậu quả gì, diễn ra trong hoàn cảnh nào và kéo dài bao lâu. Từ xử phạt hành chính đến các tội danh hình sự như cố ý gây thương tích, hành hạ người khác hay nghiêm trọng hơn, mỗi trường hợp cần được đánh giá dựa trên các tình tiết, chứng cứ cụ thể. Nắm rõ mức phạt bạo lực trẻ em giúp phân biệt rõ ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự.

Nếu bạn đang gặp một tình huống cụ thể liên quan đến bạo hành trẻ em và cần xác định rõ hướng xử lý, có thể tìm hiểu thêm thông tin pháp lý tại Luật Sư Hình Sự hoặc liên hệ hotline 0988 052 761 để được giải đáp.

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào tính chất vụ việc và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật sư Hình Sự để được hướng dẫn cụ thể.

Chia sẻ:
Facebook
Email
X

Bài viết liên quan

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Ngoại tình có bị đi tù không? Pháp luật Việt Nam không có tội ngoại tình. Tuy nhiên, chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả có thể bị truy cứu theo Điều 182 BLHS với mức phạt tù đến 03 năm.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh

Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử lý hành vi

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 BLHS 2015 có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Bài viết phân tích cấu thành tội phạm, 4 khung hình phạt, phân biệt với tội tham ô (Điều 353), nhận hối lộ (Điều 354) và quyền bào chữa của bị can.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Nhận hối lộ bao nhiêu thì bị truy tố? Ngưỡng truy cứu TNHS từ 2 triệu đồng. Dưới 2 triệu vẫn bị truy tố nếu đã bị kỷ luật hoặc hối lộ phi vật chất. Từ 01/7/2025, Luật 86/2025 đã bỏ tử hình với tội nhận hối lộ; mức cao nhất còn tù chung thân.
Mục lục