Thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam là một nội dung pháp lý quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, nhưng không phải ai cũng nắm rõ. Việc đưa người đang bị giam giữ ra khỏi cơ sở giam giữ không thể thực hiện tùy tiện mà phải tuân theo quy trình chặt chẽ, với lệnh trích xuất hợp lệ từ đúng chức danh được pháp luật trao quyền. Bài viết dưới đây phân tích cụ thể quy định về thẩm quyền, trường hợp áp dụng và những lưu ý thực tế cần biết khi thực hiện trích xuất theo pháp luật hiện hành.
1. Thế nào là trích xuất người bị tạm giữ tạm giam?

Trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam là hoạt động đưa người đang bị giam giữ tại cơ sở giam giữ ra ngoài để phục vụ các mục đích cụ thể được pháp luật cho phép. Đây là biện pháp được thực hiện trong thời gian người đó vẫn còn chịu biện pháp ngăn chặn tạm giữ hoặc tạm giam theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, do đó không làm chấm dứt tình trạng tạm giữ hay tạm giam.
Mục đích của việc trích xuất rất đa dạng, bao gồm phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, khám chữa bệnh hoặc các yêu cầu tố tụng khác có liên quan. Vì người bị trích xuất vẫn đang trong tình trạng bị hạn chế quyền tự do, toàn bộ quy trình trích xuất phải được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 cùng Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện trích xuất.
Điểm quan trọng cần hiểu đúng là trích xuất không đồng nghĩa với việc trả tự do hay tạm đình chỉ biện pháp ngăn chặn. Trong suốt thời gian trích xuất, người bị tạm giữ hoặc tạm giam vẫn phải chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan nhận người trích xuất và phải được bàn giao lại cơ sở giam giữ theo đúng thời hạn đã xác định trong lệnh trích xuất.
2. Quy định về thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam
Thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam không được trao cho bất kỳ cá nhân hay cơ quan nào, mà chỉ thuộc về các chức danh được pháp luật xác định rõ. Việc hiểu đúng phạm vi thẩm quyền này có ý nghĩa thực tế rất lớn, cả đối với cơ quan tiến hành tố tụng lẫn người có liên quan đến vụ án.
2.1. Thẩm quyền thuộc cơ quan đang thụ lý vụ án
Theo quy định tại Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và các hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, thẩm quyền ra lệnh trích xuất trước hết thuộc về người có thẩm quyền trong cơ quan đang thụ lý vụ án. Căn cứ vào cải cách tư pháp toàn diện có hiệu lực từ năm 2025 (trong đó giải thể cấp huyện của Cơ quan Cảnh sát điều tra từ ngày 01/03/2025, đồng thời chuyển đổi mô hình Tòa án, Viện kiểm sát sang cấp khu vực từ ngày 01/07/2025), các chức danh có thẩm quyền ra lệnh hoặc quyết định trích xuất bao gồm:
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (Cơ quan CSĐT Bộ Công an) hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh); Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực (VKSND khu vực) hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (VKSND cấp tỉnh); Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực (TAND khu vực) hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh (TAND cấp tỉnh), Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Chủ tọa phiên tòa.
Các chức danh này được phép ra lệnh hoặc quyết định trích xuất đối với bị can, bị cáo đang trong giai đoạn tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của cơ quan mình.
Điều này có nghĩa là thẩm quyền trích xuất gắn chặt với từng giai đoạn tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra sơ thẩm, quyền ra lệnh trích xuất người bị tạm giữ tạm giam thuộc về Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh) đang thụ lý vụ án.
Sang giai đoạn truy tố sơ thẩm, thẩm quyền này chuyển giao cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực (VKSND khu vực) hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (VKSND cấp tỉnh). Khi vụ án bước vào giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân khu vực (TAND khu vực) hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh (TAND cấp tỉnh), Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Chủ tọa phiên tòa sẽ chịu trách nhiệm ký ban hành lệnh hoặc quyết định trích xuất.
2.2. Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ sở giam giữ trong các trường hợp đặc biệt
Ngoài các chức danh trong cơ quan tiến hành tố tụng, Thủ trưởng cơ sở giam giữ cũng có thẩm quyền trích xuất trong một số trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định tại Khoản 3 Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015. Đây thường là các tình huống khẩn cấp liên quan đến sức khỏe, tính mạng của người bị giam giữ cần cấp cứu y tế mà không thể chờ đến khi có lệnh trích xuất từ cơ quan đang thụ lý vụ án.
Tuy nhiên, việc Thủ trưởng cơ sở giam giữ thực hiện trích xuất trong trường hợp này phải được thông báo ngay cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết và phải tuân thủ đúng các yêu cầu về ghi nhận văn bản, bàn giao, giám sát người bị trích xuất. Thẩm quyền này mang tính bổ trợ, không thay thế thẩm quyền chính của cơ quan tiến hành tố tụng trong các trường hợp thông thường.
2.3. Thẩm quyền trích xuất để phục vụ xét xử hoặc thi hành án
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân khu vực (TAND khu vực) hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh (TAND cấp tỉnh), Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền ra lệnh hoặc quyết định trích xuất bị cáo đang bị tạm giam để đưa ra phiên tòa hoặc phục vụ các hoạt động xét xử khác.
Đây là thủ tục trích xuất bị can, bị cáo phổ biến nhất trong thực tế tố tụng hình sự, được thực hiện theo quy trình phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án và cơ sở giam giữ.
Trong giai đoạn thi hành án phạt tù, đối tượng bị trích xuất không còn được gọi là người bị tạm giam mà được xác định chính xác là phạm nhân (đối tượng đã có bản án kết án có hiệu lực pháp luật). Thẩm quyền và thủ tục trích xuất phạm nhân phục vụ hoạt động tố tụng hình sự hoặc yêu cầu thi hành án phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định tại Điều 132 Luật Thi hành án hình sự 2019 (chứ không áp dụng Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015).
Quyết định trích xuất phạm nhân trong giai đoạn này phải do người có thẩm quyền của cơ quan quản lý thi hành án hình sự hoặc cơ quan thi hành án hình sự ban hành đúng thẩm quyền, nêu rõ mục đích, thời hạn và địa điểm áp giải phạm nhân.
3. Các trường hợp được phép thực hiện trích xuất

Pháp luật quy định về trích xuất trong tố tụng hình sự không cho phép thực hiện trích xuất tùy tiện. Chỉ những trường hợp được quy định cụ thể mới đủ điều kiện để cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất.
3.1. Phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
Đây là nhóm trường hợp phổ biến nhất được quy định cụ thể tại Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015. Cơ quan điều tra (ở cấp sơ thẩm hiện nay chủ yếu là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh – Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh) có thể yêu cầu trích xuất bị can để lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra hoặc tiến hành các hoạt động điều tra khác tại hiện trường hay tại trụ sở cơ quan.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực (VKSND khu vực) hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (VKSND cấp tỉnh) có thể trích xuất bị can trong quá trình thực hành quyền công tố để lấy lời khai phục vụ việc ban hành quyết định truy tố.
Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân khu vực (TAND khu vực) hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh (TAND cấp tỉnh) trích xuất bị cáo đang bị tạm giam để đưa ra phiên tòa xét xử là trường hợp thường xuyên xảy ra. Ngoài ra, Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng có thể yêu cầu trích xuất để thực hiện các thủ tục tố tụng tại phiên tòa hoặc tiến hành xem xét tại chỗ trong quá trình xét xử nếu thấy cần thiết để làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án.
3.2. Trích xuất để khám chữa bệnh hoặc thực hiện các quyền khác
Người bị tạm giữ hoặc tạm giam vẫn có quyền được chăm sóc sức khỏe theo chế độ quy định. Trong trường hợp tình trạng sức khỏe của người bị giam giữ cần được điều trị tại cơ sở y tế bên ngoài mà bệnh xá của cơ sở giam giữ không đủ điều kiện xử lý, việc trích xuất để đưa đi khám bệnh, chữa bệnh tại các bệnh viện có thẩm quyền là cần thiết và được pháp luật ghi nhận tại Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 cùng Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC.
Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt khác được pháp luật quy định (như thực hiện quyền bầu cử, thực hiện quyền thừa kế, hoặc giao dịch dân sự bắt buộc), người bị tạm giữ hoặc tạm giam cũng có thể được trích xuất để thực hiện các quyền hợp pháp của mình. Tuy nhiên, tất cả các trường hợp này đều phải có lệnh trích xuất hợp lệ từ người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án và phải đảm bảo người được trích xuất được quản lý, giám sát chặt chẽ trong suốt thời gian bên ngoài cơ sở giam giữ.
3.3. Trích xuất cho yêu cầu của cơ quan nước ngoài trong tương trợ tư pháp
Trong khuôn khổ hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự, người đang bị tạm giữ hoặc tạm giam tại Việt Nam có thể được trích xuất để phục vụ yêu cầu tố tụng của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, phù hợp với Luật Tương trợ tư pháp và các điều ước quốc tế liên quan.
Trường hợp này có yêu cầu pháp lý phức tạp hơn, cần có sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp trong nước và cơ quan nước ngoài thông qua kênh tương trợ tư pháp chính thức. Thẩm quyền phê duyệt và thực hiện trích xuất trong tình huống này thường thuộc cấp cao hơn và phải tuân theo các quy định bổ sung về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế.
4. Những lưu ý quan trọng về lệnh và thủ tục trích xuất
Hiểu đúng về thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam chỉ là bước đầu. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp lệnh trích xuất có sai sót về nội dung hoặc thủ tục, gây ra các rủi ro pháp lý không đáng có cho cả cơ sở giam giữ lẫn người bị trích xuất.
4.1. Yêu cầu về nội dung văn bản lệnh trích xuất
Lệnh trích xuất phải được lập thành văn bản theo đúng mẫu quy định ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC và phải có đầy đủ các nội dung bắt buộc. Cụ thể, lệnh phải thể hiện rõ: họ tên, chức vụ người ra lệnh; họ tên, năm sinh, quốc tịch, tư cách tố tụng của người bị trích xuất; lý do trích xuất; thời hạn trích xuất; địa điểm đưa người đến; cơ quan có trách nhiệm áp giải; và chữ ký, con dấu của người có thẩm quyền.
Một lệnh trích xuất thiếu bất kỳ nội dung bắt buộc nào đều có thể bị coi là không hợp lệ. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của lệnh trước khi bàn giao người bị giam giữ. Nếu lệnh trích xuất có dấu hiệu không đúng thẩm quyền hoặc thiếu nội dung bắt buộc, cơ sở giam giữ có quyền từ chối bàn giao và báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền.
Một điểm xung đột pháp lý nổi bật trong thực tiễn áp dụng là sự không thống nhất giữa quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bản thi hành tạm giữ, tạm giam.
Cụ thể, Khoản 1 Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định cơ sở giam giữ thực hiện trích xuất bị can theo lệnh trích xuất của Điều tra viên hoặc yêu cầu của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, trên thực tế, theo Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, Lệnh trích xuất bắt buộc phải do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ký tên và đóng dấu của cơ quan thụ lý vụ án.
Do đó, Điều tra viên hay Kiểm sát viên không thể tự mình ký lệnh trích xuất có hiệu lực pháp lý để cơ sở giam giữ bàn giao người. Họ bắt buộc phải lập tờ trình, hoàn thiện hồ sơ báo cáo để trình Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh) hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực (VKSND khu vực) hoặc cấp tỉnh ký duyệt và ban hành lệnh chính thức.
Việc tuân thủ quy trình này nhằm đảm bảo tính chặt chẽ trong hoạt động giam giữ, hạn chế tối đa nguy cơ lạm quyền trong tố tụng hình sự.
4.2. Thời hạn trích xuất và việc bàn giao người bị giam giữ
Thời hạn trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam phải được ghi rõ trong lệnh hoặc quyết định trích xuất và chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian đó. Sau khi kết thúc mục đích trích xuất hoặc hết thời hạn ghi trong lệnh, cơ quan nhận người trích xuất phải bàn giao lại người đó cho cơ sở giam giữ ngay lập tức. Việc không bàn giao đúng hạn mà không có lý do chính đáng được pháp luật chấp nhận là hành vi vi phạm nghiêm trọng quy định về thi hành tạm giữ, tạm giam.
Trong quá trình giao nhận, cả hai bên giao và nhận phải lập biên bản ghi nhận cụ thể tình trạng sức khỏe, thân thể của người được bàn giao. Nếu trong thời gian trích xuất xảy ra sự cố liên quan đến sức khỏe, an toàn tính mạng hoặc người bị trích xuất có hành vi bỏ trốn, cơ quan nhận người trích xuất đang quản lý người đó phải lập tức thông báo bằng văn bản cho cơ sở giam giữ và cơ quan đang thụ lý vụ án để phối hợp xử lý kịp thời.
4.3. Đảm bảo quyền lợi của người bị tạm giữ tạm giam khi trích xuất
Trong suốt thời gian trích xuất, người bị tạm giữ hoặc tạm giam vẫn giữ nguyên tư cách tố tụng và các quyền pháp lý của mình. Họ có quyền từ chối trả lời câu hỏi nếu không có mặt người bào chữa trong các trường hợp pháp luật yêu cầu, có quyền không bị ép cung, bức cung hoặc dùng nhục hình.
Một điểm quan trọng thường bị bỏ qua trong thực tế là người bị trích xuất phải được thông báo rõ ràng bằng văn bản về lý do trích xuất, thời hạn thực hiện và địa điểm đưa đến. Họ cũng có quyền yêu cầu kiểm tra tính hợp lệ của lệnh hoặc quyết định trích xuất trước khi chấp hành.
Nếu có nghi ngờ về tính hợp pháp của lệnh hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ áp giải trong quá trình trích xuất, người bị tạm giữ hoặc tạm giam có quyền phản ánh trực tiếp, thông qua người bào chữa hoặc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trách nhiệm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người bị trích xuất thuộc về cả cơ sở giam giữ lẫn cơ quan nhận người trích xuất. Cơ sở giam giữ có nghĩa vụ ghi nhận đầy đủ tình trạng sức khỏe, thể chất của người bị giam giữ trước khi bàn giao, trong khi cơ quan nhận người phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, không để xảy ra hành vi bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ sự xâm phạm quyền con người nào trong suốt thời gian quản lý.
Nếu bạn hoặc người thân đang liên quan đến quá trình tố tụng hình sự, cần làm rõ tính hợp lệ của lệnh trích xuất, quyền lợi trong thời gian trích xuất hoặc giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh, hãy liên hệ trực tiếp với văn phòng Luật Sư Hình Sự để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ chuyên sâu và kịp thời nhất từ các Luật sư giàu kinh nghiệm thực chiến.
5. Câu hỏi thường gặp về thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam (FAQ)
Để giúp bạn đọc và người nhà của người bị tạm giữ, tạm giam dễ dàng hệ thống hóa các kiến thức pháp lý liên quan, dưới đây là giải đáp chi tiết cho các câu hỏi thường gặp nhất về thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam:
5.1. Ai có thẩm quyền ký Lệnh trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra sơ thẩm hiện nay?
Theo quy định tại Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, kết hợp với cải cách tổ chức cơ quan tiến hành tố tụng từ năm 2025, thẩm quyền ký Lệnh trích xuất trong giai đoạn điều tra sơ thẩm thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh).
Điều tra viên trực tiếp thụ lý vụ án không được tự ý ký Lệnh trích xuất mà bắt buộc phải làm tờ trình đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng ký ban hành lệnh chính thức dưới danh nghĩa Cơ quan Cảnh sát điều tra.
5.2. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Chủ tọa phiên tòa có được ký quyết định trích xuất bị cáo không?
Có. Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và trong quá trình diễn ra phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoàn toàn có thẩm quyền ký quyết định hoặc lệnh trích xuất bị cáo đang bị tạm giam để phục vụ cho các hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực (TAND khu vực) hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh (TAND cấp tỉnh).
5.3. Trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam khác với trích xuất phạm nhân như thế nào?
Sự học hỏi và khác biệt lớn nhất nằm ở tư cách tố tụng của đối tượng bị trích xuất và căn cứ pháp lý điều chỉnh. Trích xuất người bị tạm giữ, tạm giam áp dụng cho người chưa có bản án kết án có hiệu lực pháp luật (bị can, bị cáo), được điều chỉnh trực tiếp bởi Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015.
Ngược lại, trích xuất phạm nhân áp dụng đối với người đã có bản án kết án có hiệu lực pháp luật và đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự, được điều chỉnh bởi Điều 132 Luật Thi hành án hình sự 2019 nhằm phục vụ điều tra, truy tố, xét xử hoặc các hoạt động thi hành án khác.
5.4. Cơ sở giam giữ có quyền từ chối bàn giao người bị giam giữ nếu Lệnh trích xuất không hợp lệ không?
Có. Thủ trưởng cơ sở giam giữ (như Trưởng trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ) có nghĩa vụ kiểm tra tính pháp lý của Lệnh trích xuất.
Nếu phát hiện lệnh được ban hành không đúng thẩm quyền (chẳng hạn như do Điều tra viên tự ký thay vì Thủ trưởng Cơ quan điều tra, hoặc do Kiểm sát viên tự ký thay vì Viện trưởng Viện kiểm sát), hoặc lệnh thiếu các nội dung bắt buộc như lý do trích xuất, thời hạn trích xuất, cơ sở giam giữ có quyền từ chối bàn giao bị can, bị cáo và lập biên bản thông báo bằng văn bản gửi cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết để khắc phục sai sót.
5.5. Người bị tạm giữ, tạm giam có những quyền lợi gì trong thời gian bị trích xuất ra khỏi cơ sở giam giữ?
Trong suốt quá trình bị trích xuất ra khỏi trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn giữ nguyên tư cách tố tụng và toàn bộ quyền hợp pháp của mình (bao gồm cả quyền đề xuất áp dụng biện pháp bảo lĩnh xin tại ngoại nếu có đủ điều kiện).
Họ có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội, có quyền yêu cầu sự có mặt của luật sư bào chữa khi lấy lời khai, được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe và nhân phẩm, được chăm sóc y tế nếu phát sinh bệnh tật đột xuất, và tuyệt đối không bị ép cung, bức cung hoặc dùng nhục hình dưới mọi hình thức.
6. Kết luận
Thẩm quyền trích xuất người bị tạm giữ tạm giam được pháp luật quy định chặt chẽ, trao cho các chức danh cụ thể thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Thủ trưởng cơ sở giam giữ trong trường hợp đặc biệt. Việc nắm rõ thẩm quyền này, cùng việc cập nhật các cải cách tư pháp mới nhất từ năm 2025 và giải quyết thấu đáo các xung đột thực tiễn giữa Bộ luật Tố tụng hình sự với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, là vô cùng thiết yếu.
Điều này giúp bảo đảm tính thượng tôn pháp luật, bảo vệ tối đa các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo cũng như tránh các rủi ro pháp lý đáng tiếc trong hoạt động tố tụng hình sự.
Nếu cần trao đổi thêm về quy định trích xuất hoặc bất kỳ vướng mắc pháp lý nào liên quan đến thủ tục tạm giữ, tạm giam, bạn có thể liên hệ ngay với đội ngũ Luật sư tư vấn luật hình sự thuộc Phòng Luật sư Hình sự Duy Minh qua hotline 0988 052 761 hoặc gửi yêu cầu chi tiết qua email luatsuhinhsu.hcm@gmail.com để được hỗ trợ tận tình và nhanh chóng.
*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật sư Hình Sự để được hướng dẫn cụ thể.







