Bảo vệ công lý – Bảo vệ quyền con người

TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ VÀ ĐIỂM CẦN LƯU Ý

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự. Đây là một trong các tội phạm về chức vụ có ranh giới pháp lý rất phức tạp giữa vi phạm kỷ luật hành chính và trách nhiệm hình sự. Việc xác định hành vi làm trái công vụ, động cơ vụ lợi hay thiệt hại thực tế là căn cứ cốt lõi để cơ quan tiến hành tố tụng quyết định khởi tố vụ án.

1. Bản chất pháp lý của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Điều 356 BLHS
Phân tích bản chất pháp lý tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1.1. Căn cứ quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự

Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Điều luật thuộc Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, quy định nhóm tội danh về chức vụ cùng với các tội danh khác như tội tham ô tài sản hay tội nhận hối lộ. Đây là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thi hành công vụ có hành vi trái luật.

Điều luật này không điều chỉnh các hành vi lạm dụng quyền lực chung chung, mà tập trung vào hành vi cụ thể: người có nhiệm vụ quyền hạn trực tiếp sử dụng vị trí công tác của mình làm công cụ thực hiện việc làm trái công vụ, nhằm mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

1.2. Thế nào là hành vi làm trái công vụ?

Hành vi làm trái công vụ được hiểu là việc người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ được giao trái với quy định của pháp luật. Đây là dấu hiệu thuộc mặt khách quan trung tâm của tội danh này.

Hành vi vi phạm bắt buộc phải xảy ra trong khi thi hành công vụ. Nghĩa là người thực hiện đang nhân danh chức vụ quyền hạn được giao để hành động, không phải tư cách cá nhân thuần túy. Nếu sai phạm không gắn liền với việc thực thi công vụ, cơ quan tố tụng không thể áp dụng Điều 356.

1.3. Vai trò của yếu tố vụ lợi và động cơ cá nhân

Yếu tố vụ lợi hoặc động cơ cá nhân là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội danh này. Theo Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP, vụ lợi là việc người phạm tội mưu cầu lợi ích vật chất hoặc phi vật chất không chính đáng cho bản thân hoặc cho người khác.

Động cơ cá nhân khác có thể là thiên vị người thân, trả thù cá nhân, lợi ích nhóm hoặc các động cơ cá nhân không trong sáng khác. Thực tế đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy, việc không nhận tiền hay lợi ích vật chất trực tiếp không đồng nghĩa với việc loại trừ trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra sẽ chứng minh động cơ cá nhân đằng sau hành vi làm trái công vụ để làm căn cứ buộc tội.

2. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm cần lưu ý

2.1. Chủ thể đặc biệt: Người có chức vụ, quyền hạn

Tội danh này quy định chủ thể đặc biệt, tức là chỉ người có chức vụ, quyền hạn mới có thể thực hiện tội phạm. Theo quy định của Bộ luật Hình sự, người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc một hình thức khác, được giao thực hiện nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, bất kể có hưởng lương hay không.

Chủ thể của tội phạm bao gồm cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước, người có chức vụ trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hoặc người được giao thực hiện công vụ cụ thể. Người không có chức vụ quyền hạn chỉ có thể bị xử lý với vai trò đồng phạm giúp sức, không thể là người thực hành trực tiếp tội danh này.

2.2. Hậu quả thiệt hại: Từ tài sản đến lợi ích của Nhà nước và tổ chức

Hậu quả thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Thiệt hại này bao gồm thiệt hại về tài sản (từ 10.000.000 đồng trở lên) hoặc các thiệt hại phi vật chất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Mức độ thiệt hại là căn cứ để phân định khung hình phạt. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi làm trái công vụ và thiệt hại thực tế phát sinh thông qua kết quả định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

2.3. Sự khác biệt giữa lợi dụng chức vụ và lạm quyền

Việc phân biệt hành vi lợi dụng chức vụ và hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ là rất quan trọng. Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở phạm vi thẩm quyền. Người lợi dụng chức vụ thực hiện hành vi làm trái ngay trong phạm vi nhiệm vụ được giao; trong khi người lạm quyền thực hiện hành vi vượt quá thẩm quyền được giao hoặc làm việc không thuộc thẩm quyền của mình.

Bên cạnh tội lạm quyền, hành vi này cần phân biệt với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360 Bộ luật Hình sự). Tội thiếu trách nhiệm xuất phát từ lỗi vô ý; còn tội lợi dụng chức vụ được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

3. Các khung hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Khung hình phạt tội lợi dụng chức vụ quyền hạn theo Điều 356 Bộ luật Hình sự
Các khung hình phạt tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

3.1. Khung hình phạt cơ bản và các tình tiết tăng nặng

Theo quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gồm 3 khung hình phạt chính:

  • Khung 1 (Khung cơ bản): Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với hành vi gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
  • Khung 2: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: (i) có tổ chức; (ii) phạm tội 02 lần trở lên; (iii) gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
  • Khung 3: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu hành vi phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

Mức hình phạt trong thực tế sẽ được Tòa án quyết định dựa trên nhân thân của bị cáo, vai trò trong vụ án, mức độ khắc phục hậu quả và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự được chứng minh tại phiên tòa.

3.3. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Theo Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), do mức hình phạt cao nhất của tội danh này là 15 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng), vụ án thuộc cả ba khung hình phạt của Điều 356 đều thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực.

3.2. Hình phạt bổ sung và hệ lụy đối với sự nghiệp, công tác

Bên cạnh hình phạt chính, Khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn phải chịu hình phạt bổ sung. Cụ thể, người phạm tội bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ sẽ tước bỏ cơ hội tiếp tục làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nước của người phạm tội kể cả sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Đây là hệ quả pháp lý rất nặng nề ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp của người thi hành công vụ.

4. Định hướng xử lý và rủi ro khi bị xem xét trách nhiệm hình sự

4.1. Những sai lầm thường gặp khi tự giải trình với cơ quan điều tra

Các vụ án về chức vụ thường mang tính đặc thù cao và hồ sơ tài liệu phức tạp. Một sai lầm phổ biến của người liên quan là tự giải trình với cơ quan tiến hành tố tụng khi chưa tham vấn ý kiến pháp lý chuyên sâu. Việc tự bào chữa mà không hiểu rõ ranh giới giữa sai sót hành chính và tội phạm hình sự có thể tạo ra những bất lợi lớn trong quá trình điều tra.

Mặc dù việc hợp tác và thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ hình sự quan trọng, người liên quan cần nắm rõ quyền tự trình bày lời khai và bảo lưu các ý kiến khách quan. Việc khai báo không có định hướng rõ ràng hoặc nhầm lẫn giữa lời khai thực tế và suy đoán cá nhân có thể dẫn đến việc cơ quan điều tra đánh giá sai lệch hành vi khách quan.

Rủi ro lớn nhất là việc người thi hành công vụ tự nhận định sai về tính chất công việc của mình. Một sai sót nghiệp vụ có thể bị quy kết thành hành vi cố ý làm trái công vụ nếu cơ quan điều tra chứng minh được động cơ cá nhân. Do đó, việc xác định rõ bản chất pháp lý của từng quyết định quản lý trong hồ sơ công vụ là yêu cầu bắt buộc trước khi đưa ra lời khai chính thức.

4.2. Thời điểm người liên quan nên tìm hiểu quyền và nghĩa vụ pháp lý

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, người bị buộc tội (gồm người bị bắt, bị can, bị cáo) có quyền trình bày lời khai và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình. Đối với người bị tố giác hoặc bị triệu tập, họ có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo tội phạm.

Việc chủ động tìm hiểu quyền và nghĩa vụ pháp lý cần được thực hiện trước khi có buổi làm việc chính thức với điều tra viên. Nắm rõ vị trí tố tụng giúp người thi hành công vụ đưa ra những giải trình khách quan, chuẩn xác, bảo vệ tối đa quyền lợi của mình thay vì bị động trước các biện pháp điều tra của cơ quan công an.

Nếu bạn hoặc người thân đang bị xem xét trách nhiệm liên quan đến nhóm tội phạm chức vụ, việc tham vấn Luật Sư Tư Vấn Luật Hình Sự từ sớm là giải pháp thiết thực. Luật sư sẽ hỗ trợ phân tích hồ sơ công vụ, xác định rõ tư cách tố tụng và đồng hành trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra nhằm bảo đảm tính khách quan của vụ án.

Lưu ý quan trọng khi xem xét hành vi theo Điều 356 Bộ luật Hình sự

Cần đặc biệt lưu ý rằng cơ quan tiến hành tố tụng không thể quy kết tội danh chỉ dựa trên chức vụ hoặc chức danh quản lý của người thực hiện hành vi.

Để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 356, cơ quan điều tra có nghĩa vụ chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành bao gồm: chủ thể có chức vụ quyền hạn, hành vi làm trái công vụ xảy ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ, động cơ vụ lợi hoặc cá nhân không trong sáng và hậu quả thiệt hại thực tế liên đới. Thiếu một trong các yếu tố cấu thành bắt buộc này thì hành vi không phạm tội.

Ranh giới giữa lỗi thiếu trách nhiệm, sai sót hành chính và tội phạm hình sự trong quản lý nhà nước rất mỏng manh. Do đó, việc bóc tách chứng cứ trong hồ sơ công vụ và đánh giá bối cảnh khách quan xảy ra sai phạm là công việc vô cùng quan trọng giúp chứng minh tính chất lỗi của người thực hiện hành vi, từ đó tìm ra phương án giải quyết tối ưu nhất.

Kết luận

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo Điều 356 Bộ luật Hình sự có tính chất đặc thù và đòi hỏi việc đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện. Khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến 15 năm tù cùng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do và sự nghiệp của người thi hành công vụ.

Nếu đang có các vướng mắc pháp lý liên quan đến tội danh này, quý khách hàng có thể liên hệ đội ngũ Luật Sư Hình Sự qua hotline 0988 052 761 hoặc email luatsuhinhsu.hcm@gmail.com để được hỗ trợ phân tích hồ sơ và định hướng xử lý kịp thời.

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho dịch vụ pháp lý chuyên sâu của Luật sư. Mọi tình tiết riêng biệt trong hồ sơ vụ việc thực tế sẽ quyết định phương án giải quyết tối ưu. Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp để được hướng dẫn chi tiết.

Chia sẻ:
Facebook
Email
X

Bài viết liên quan

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Ngoại tình có bị đi tù không? Pháp luật Việt Nam không có tội ngoại tình. Tuy nhiên, chung sống như vợ chồng với người khác gây hậu quả có thể bị truy cứu theo Điều 182 BLHS với mức phạt tù đến 03 năm.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh

Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử lý hành vi

Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 BLHS 2015 có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Bài viết phân tích cấu thành tội phạm, 4 khung hình phạt, phân biệt với tội tham ô (Điều 353), nhận hối lộ (Điều 354) và quyền bào chữa của bị can.
Logo Công ty Luật TNHH Duy Minh
Nhận hối lộ bao nhiêu thì bị truy tố? Ngưỡng truy cứu TNHS từ 2 triệu đồng. Dưới 2 triệu vẫn bị truy tố nếu đã bị kỷ luật hoặc hối lộ phi vật chất. Từ 01/7/2025, Luật 86/2025 đã bỏ tử hình với tội nhận hối lộ; mức cao nhất còn tù chung thân.
Mục lục